Sunday, 18/08/2019 - 09:00|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Cẩm Phú

VIẾT VỀ ANH HÙNG LIỆT SỸ TRƯƠNG CÔNG MAN “CHIẾN SỸ KHOÁC ÁO LỬA”

Xã Đông Á, huyên Đông Hưng Thái Bình - Xã Cẩm  Phú huyện Cẩm Thuỷ Thanh Hoá và sư đoàn 320 rất tự hào đã sinh ra, nuôi dưỡng,  giáo dục, rèn luyện và đùm boc Anh hùng liệt sỹ Trương Công man. Một người đồng chí, người con đã có tinh thần mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu và tấm gương hi sinh anh dũng của người chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiêp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

VIẾT VỀ ANH HÙNG LIỆT SỸ TRƯƠNG CÔNG MAN

“CHIẾN SỸ KHOÁC ÁO LỬA”

Xã Đông Á, huyên Đông Hưng Thái Bình - Xã Cẩm  Phú huyện Cẩm Thuỷ Thanh Hoá và sư đoàn 320 rất tự hào đã sinh ra, nuôi dưỡng,  giáo dục, rèn luyện và đùm boc Anh hùng liệt sỹ Trương Công man. Một người đồng chí, người con đã có tinh thần mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu và tấm gương hi sinh anh dũng của người chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiêp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

Nơi anh sinh ra là một xã miền núi vùng cao, xã Cẩm Phú cách huyện lỵ Cẩm Thuỷ 30km, cách thành nhà Hồ Quý Ly 5km về phía Tây Bắc, anh là người dân tôc Mường.

Lịch sử gắn liền với lịch trình chống ngoại xâm của dân tộc. Từ đặc điểm lịch sử trên đã nảy sinh ra truyền thống yêu nước nống nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc, truyền thông đó đã làm nên sức mạnh thần kỳ của quân và dân ta đánh giặc ngoại xâm. Cũng từ truyền thống thiêng liêng cao đẹp đó mà trong những trang sử vẻ vang của quê hương Thanh Hoá đã ghi tên môt người con của núi rừng Cẩm Phú - Cẩm Thuỷ - Anh hùng liệt sỹ Trương Công Man “Chiến sỹ khoác áo lửa”.

Anh hùngTrương Công Man  sinh năm 1931 ,anh sinh ra và lớn lên tại làng Phú Lai xã Cẩm Long huyện Cẩm Thuỷ tỉnh Thanh Hoá nay là thôn Tiến Long xã Cẩm Phú huyện Cẩm Thuỷ tỉnh Thanh Hoá. Ông thân sinh là Trương Công Viên và thân mẫu là bà Nguyễn Thị Thị. Ông bà sinh được 8 người con, 4trai, 4gái, cùng sinh sống trong một mái nhà sàn với chín bâc thang lên xuống mà tay vin đã nhẵn tay mát rượi. Xung quanh là vườn cây ăn quả bốn mùa xanh tươi.

Mặc dù hoàn cảnh gia đình còn gặp nhiều khó khăn nhân lực tham gia lao động ít, nhưng ông bà vẫn không hề quản ngại, cần mẫn lao động, tạo mọi điều kiện chăm sóc, động viên các con ăn học nên người. Đặc biệt cha mẹ Trương Công Man đặt rất nhiều hy vọng vào anh bởi ngay từ bé anh đã tỏ ra có tư chất khác thường, thông minh , hiếu động và “gan cóc tía”.

Lúc còn bé Trương Công  Man cũng như bao đứa trẻ khác rất thích nghe kể chuyện, ngoài những lúc chăn trâu, cắt cỏ bận rộn, lúc rảnh rỗi anh thường được các cụ già kể cho nghe những câu chuyện lich sử và công cuộc chống giặc ngoại xâm , anh thích nhất những câu chuyện kể về các võ tướng Thanh Hoá như Lê Hoàn, Lê Lợi, Lê Lai…những người con đã làm rạng rỡ cho quê hương Thanh Hóa.

Những buổi chăn trâu ở trên đồi, trong rừng Man thường cùng bạn bè chơi trò chơi đánh trận giả, xung phong giết giặc. Nhiều đêm trời tối đen như mực, gió rét thấu xương, anh vẫn một mình cầm đóm đi chém cá ở dưới khe suối, mặc cho Hổ gầm, Vượn rú.

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 anh tròn 15 tuổi, anh Man được đi học lớp bình dân học vụ, anh rất chăm chỉ và tỏ rõ sự thông minh vượt trội bạn bè cùng trang lứa. Học xong, anh được cử làm giáo viên bình dân học vụ ở thôn và phụ trách các lớp học bình dân học vụ. Trong công tác anh luôn gương  mẫu, nỗ  lực, cố gắng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, là tấm gương sáng cho đoàn viên thanh niên học tâp. Các  bà mẹ ở thôn Phú Lai thường lấy anh làm tấm gương sáng để khuyên bảo con cái. Bên dòng suối trong vắt, các cô gái Mường xinh xắn hay nhắc đến tên anh để khuyên nhau học tập.

Cuộc sống ở bản Mường quê anh đang thanh  bình yên ả ,bỗng một ngày máy bay giặc ập  tới, chúng dội bom bắn phá quê hương anh,  nhiêu ngôi nhà bị cháy, nhiêu cụ già em bé không kịp chạy đã chết thảm thương dưới cầu thang nhà sàn. Trước cảnh quê hương bị tàn phá, những người con quê hương  anh, gia đình anh đã lần lượt “xếp bút nghiên theo viêc binh đao” nhập ngũ tòng quân. Quyết tâm chả thù cho đồng bào ,cho quê hương bản Mường yêu dấu.

Tháng 12 năm 1949, Trương Công Man cùng bạn bè đồng lứa tòng quân, vào  quân ngũ  chàng trai 18 tuổi ấy đã say sưa luyện tập, chụi đựng gian khổ  nỗ lực phấn đấu đến mức cao nhất, không quản nắng mưa, nóng bức hay giá rét. Lúc thường hoặc trong cuộc đối mặt với kẻ thù anh luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một liên Đại đội với một long dũng cảm tuyệt vời.

Điều đã tiếp cho sức mạnh để anh luôn hoàn thành nhiệm vụ chính là hình ảnh người mẹ của anh. Người mẹ mà anh hằng yêu quý, cha anh qua đời khi đứa em út của anh còn trứng nước. Một mình mẹ anh phải gánh vác “Giang sơn nha chồng” với 8 đứa con tưởng chừng như quá sức đối với mẹ. Như cũng như băơngì mẹ Việt Nam, mẹ anh đã tần tảo nuôi các con, vượt qua khó khăn đời thường để vững vàng trong cuộc sống, yêu thương dân làng,bà sẵn sàngnhwờng cơm sẻ áo cho bà con trong xóm, như bát gạo, bắp ngô, nắm lá, gói thuốc đồng thời cũng nhận được ở bà con dân bản sự đùm bọc, thương yêu lẫn nhau, giữ vững truyền thống đoàn kết thương yêu nhau. Mẹ luôn động viên các con, các cháu tham gia đầy đủ công tác xã hội.

Thấy Trương Công Man học giỏi, lòng mẹ vui mừng, mẹ thường ước ao con được học hành đến nơi đến chốn mai này thành bác sỹ, kỷ sư làm rạng rỡ cho dòng họ Trương, lamg rạng rỡ cho quê hương. Nhưng khi đất nước có giặc, anh xin mẹ cho lên đươcngf tòng quân đánh giặc. Người mẹ ấy đã không hề do đo, tính toá, mẹ đã đồng ý và động viên con lên đường tham gia kháng chiến bảo vệ tổ quốc. Khi anh chào mẹ ra đi, nước mắt mẹ lưng tròng nhưng không vướng bận. Phát huy truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc, của quê hương, đến nay gia đình anh hùng liệt sỹ Trương Công Man đã có 4 liệt sỹ anh dũng hy sinh cho Tổ quốc (01 con trai, 01 con rễ, 02 cháu nội) họ đều sinh ra và lớn lên từ chiếc nôi thấm đượm tình người và hừng hực tinh thần dũng cảm. Họ  có những người mẹ anh hùng, có tinh thần yêu nước nồng nàn tha thiết, là Hậu phương vững chắc cho những người con yêu dấu ở chiến trường đầy bom đạn hiểm nguy.

Trong một trận chiến đấu ác liệt với kẻ thù người chiến sỹ bộ phá đã hy sinh anh dũng. Núi rừng nhớ thương tiếc anh, Tổ quốc ghi công anh, những đồng chí, đồng đội của anh đã viết về anh những tâm tình trân trọng. Anh là người con của xứ Mường cẩm thủy đă dể lại cho lớp lớp thanh niên, đòan viên và các em thíêu niên một tấm gương sáng về tinh thần dũng cảm trong chién đấu ,tinh thần kiên trì học hỏi, tinh thần quả cảm và tấm lòng chân thật.

Người dân cảm thuỷ quê anh  đã ghi lại gương anh dũng của người con yêu dấu:

“”Tiếc sững sờ ….

Nhưng bỗng nhận ra

Thảo nào lỳc ở nhà

Tuổi thiếu nhi đó lạ

Dự đờm tiếng hổ gầm cỏc ngả

Anh vẫn vượt rừng nhiệm vụ dạy bỡnh dõn”

Sư đoàn 320 đã đễ anh yên nghỉ nơi anh đã ngã xuống – mảnh đất có nhiều chiến công.

Người dân Đông Áđã coi anh như chinh con em mình

TƯỞNG NHỚ TRƯƠNG CÔNG MAN “CHIÊN SĨ KHOÁC ÁO LỬA” LIỆT SỸ ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG.

Nhiều đồng chí, đồng bào và bà con Đông Á hẳn còn nhớ suất hơn 50 năm qua có một bà mẹ già thấp nhỏ đã lặn lội từ miền trung Thanh Nghệ ra đây để thắp hương một người con trai của mình! Có thể nói hơn 50 năm là nửa cuộc đời còn lại của mẹ. Tuy không thường năm, nhưng mẹ vẫn đến khi tròn trăm tuổi, mẹ đã ra Bắc gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng và chính quyền ở địa phương cho xin được mang hài cốt con trai về quê, vì mẹ già yếu biết rồi có ra thăm được nữa không. Các đồng chí ta đã thưa với mẹ, xin để anh yên nghỉ nơi anh ngã xuống, nhân dân Đông Hưng, Đông Á sẽ đời đời được hương khói anh. Lời khẩn khoản của người thay mặt cho Đảng và nhân dân đã được mẹ chấp nhận, nhưng không ngờ lần gặp gỡ ấy lại là lần cuối, mẹ đã qua đời vào tuổi 102! Mẹ  là thân mẫu của người thanh niên yêu nước, dũng cảm được mệnh danh là “Chiến sỹ khoắc áo lửa” Liệt sỹ anh hùng Trương Công Man. Người đang là đề tài về phẩm hạnh cách mạng của tuổi trẻ chiến đấu ở thời đại Hồ Chí Minh chúng ta.

Nói về anh khi đã qua hai thế hệ con người lại ở trong phạm vi hẹp, làm sao có thể nói được hết, chúng ta chỉ có thể nhìn lại anh, phản ánh về anh từ góc độ này, góc độ khác mà thôi.

Là đồng đội của anh, được chứng kiến những chiến tích lịch sử của anh, đồng chí Ngô Chi nguyên cán bộ tuyên huấn của Sư đoàn 320 đã viết:

“Trương Công Man là chàng trai của Mường, của bản, chấp hành mệnh lện, yêu thương đồng đội, thể hiện ý chí cách mạng của Trương Công Man”.

TRƯƠNG CÔNG MAN LÀ CHÀNG TRAI CỦA MƯỜNG, CỦA BẢN:

Cứ chiều đến đứng trên bờ sông Mã nhìn về, ta thấy dãy núi đá trùng điệp, ẩn khuất trong sương lam, chân núi là những hàng cau xanh thẫm, thấp thoáng nhà Sàn đang lên khói đó là bản Mường xã Cẩm Phú huyện Cẩm Thuỷ tỉnhThanh Hoá, là quê hương người thanh niên trẻ Trương Công Man.

Vừa cầm được cái rưa, tự lên rẫy phát nương, kéo được cái ná, tự bắn được con chồn, con cheo là Man ý thức được vẻ đẹp hùng vĩ của quê hương mình, đồng thời anh cũng they đươc cuộc sống của bà con dân bản con quá nghèo khổ, cái nghèo cứ đeo đuổi bản làng, cái nghèo đã bán chết những ai không làm ra cái ăn chứ không phải con ma rừng. Anh thương mế lận đận sớm tối, tần tảo khắp rừng xa, suối gần mà người nhà vẫn đói xanh mắt.

Cách mạng về, cụ Hồ đã cứu sống gia đình anh, cứu sống bản làng anh khỏi ách áp bức, bóc lột bọn quan lang, phà lao. Nhưng chưa được lâu thì giặc Tây trở lại xâm lược. Bọn Phà lao lại ngóc đầu dậy hòng hà hiếp dân bản lần nữa. Chúng rắp tâm làm phản. Cẩm Phú tuy hẻo lánh, nhưng lai là nơi đi về giữa Hậu phương với tiền tuyến, nó cũng là cửa ngõ của mọi cuộc bắn phá của máy bay giặc, là nơi tập trung mọi sự nhòm ngó của các loại tình báo, mật vụ, …

Cái bụng của anh nghỉ thế nào thì làm thế ấy. Anh háo hức được cầm súng làm anh bộ đội cụ Hồ, ra trận như những chiến sỹ vẫn qua lại quê anh.

Sau chiến thắng biên giới Việt – Trung (1950) chiến trường Đông Dương đã có hậu phương từ Việt Bắc, kéo dài đến tận nước Nga Xô Viết và cả vùng Đông Âu rộng lớn. Cuộc kháng chiến có thể chuyển qua giai đoạn chiến lược phòng ngự sang giai đoạn chiến lược tổng tiến công. Để đáp ứng của nhiệm vụ chiến lược  gia đoạn này, quân đội ta cần tổ chức đánh lớn, đánh tập trung, đánh đoàn quyết định. Do vậy Trung ương Đảng và Tổng quân uỷ quyết định thành lập thêm các Đại đoàn chủ lực, trong đó có Đại đoàn Đồng bằng 320.

Vừa đến tuổi 17 “bẻ gãy sừng trâu”  anh thanh niên Trương Công man đã háo hức được cầm súng đánh Tây mà lâu nay anh ấp ủ.

Nguyện vọng của anh được đáp ứng vào một buổi chiều ở nhà Trưởng bản, khi tờ danh sách thanh niên tình nguyện tòng quân giết giặc vừa được treo lên là trâi gái trong bản đã xúm quanh lại, người thì đọc, kẻ đánh vần, chỗ này nói, chỗ kia cười, … Thật là vui, là nhộn. Man nhìn kỹ bảng đề tên lần nữa, rồi chạy một mạch về nhà nói với Mế:

- Mế ơi, mế à! Cu Man được đi giết giặc rồi đây! cái tên viết ở giấy to, ai cũng biết mà!

- Bà mế cũng đựơc cô bé hàng xóm mách trước đó ít phút, bà nhìn anh rồi nói:

“ừ mế có biết, có phải cu Man sợ rừng hết củ, sợ suối hết môn mà đi xa mế không?”.

- Không đâu mế ạ! Trưởng bản nói cu Man đi để kiếm cái độc lập cho nước, kiếm cái ruộng về cho người nghèo mà!

Bà không muốn làm mất đi cái vui bất ngờ cua con trai mình, nhưng cu cậu còn là đứa trẻ vừa mới lớn, còn nhút nhát, bà sợ con mình không chịu nổi mưa rừng, rét núi của bộ đội, bà nhìn con dò hỏi:

- Thế cu Man có chịu được khổ khi xa mế không? Cu Man này, vào  bộ đội là khổ lắm đấy con à!

Biết mế đang lo cho mình, lại sẵn sàng cho đi bộ đội. Man vui hẳn lên:

Cu Man chịu được mế  à!

Gọi là nói nhỏ mà trở thành nói to, chuyện cu Man đi bộ đội lan  nhanh ra bản, bà con truyền nhau. cu Man được đi bộ đội … cu man ra trận  đánh Tây … cu Man đẹp trai nhất bản được vào bộ đội cụ Hồ rồi ... còn  Man  lúc này thật hôi hộp, câu lo cuông lên, nao la phai chuân bị quân áo lên đường, nao là giúp Mế tiếp các già bản đến thăm, nào là phải trả lời những câu hỏi cua các bạn, lại còn phải kí cái tên mình vào sổ kỉ niệm chia tay với mấy đứa nhà bên nữa. Nhà Man thật là nhôn nhịp.

CHẤP HÀNH MỆNH LỆNH, YÊU THƯƠNG DỒNG DỘI THỂ  HIỆN  Ý CHÍ  CÁCH  MẠNG  CỦA  TRƯƠNG  CÔNG MAN.

Man nghĩ: Vậy ra mình đã bắn được cái ná, bây giờ lại biết bắn cái súng nữa thì sướng thật!

Thấy Man vuốt ve cây súng trường dài quá đầu mình một cách thích thú, đại đội trưởng huấn luyện hỏi:

Đồng chí tên gì?

Man nhìn anh tự nhiên:

Thưa … ở nhà mế gọi cu Man

Đại đội trưởng huấn luyện cười thông cảm. Anh biết câu trả lời của Man ngộ nghĩnh nhưng lại rất thật, anh vỗ vai Man:

À Man này! ở nhà Mế gọi cu Man. Vào bộ đội là người lớn rồi, gọi là anh Man được không nào?

Được đấy Đại đội trưởng à! Đại đội trưởng lại hỏi:

Vởy anh Man có mang nổi khẩu súng ấy không>

Man biết Đại đội trưởng huấn luyện có ý chê anh bé nên anh vội trả lời:

Mang được mà … mang được Đại đội trưởng à. Nó chỉ nặng hơn cái ná thôi mà.

Đại đội trưởng nói: Anh Man này anh ăn cơm cụ Hồ mau lớn lắm. Anh Man gắng ăn cho chóng lớn nhá!

Ồ Đại đội trưởng nói đúng cái bụng của Man rồi. Man sẽ mau lớn mà, sau khoá huấn luyện tân binh, Man được bổ xung về đại đội 269 Tiểu đoàn 391 trung đoàn 52 Đại đoàn Đồng bằng 320. Đại đội trưởng 269 thấy Man ít tuổi, người chắc lẳn, đôi mắt sáng tự tin, anh quyết định để Man lại làm liên lạc cho mình. Anh nói với Man:

- Anh Man bằng lòng làm liên lạc Đại đội không?

Man đứng thẳng, dập nghiêng (động tác học được khi huấn luyện) rồi nói:

Thưa Đại đội trưởng, Man muốn cầm súng bắn hết giặc Tây để nước nhà độc lập, người nghèo mình có ruộng mà! Đại đội trưởng cười:

Làm liên lạc cũng cầm súng,cũng đánh giặc chứ có chơi đâu.

Vậy là Man sướng cái bụng rồi. Man bằng lòng đây Đại đội trưởng à. Từ đây anh thanh niên Trương Công Man, cậu con trai Mường luôn luôn ở bên cạnh Đại đội trưởng 269.

Về đồng bằng, hướng tiến công và nhiệm vụ chiến đấu của đơn vị Man hoàn toàn mới lạ. Họ đã từ đoàn quân: “đầu không mọc tóc” của núi rừng Việt - Lào ít nắng, nay chuyển về sống và chiến đấu ở đồng bằng nhật lệnh của Đại đoàn trưởng “Chiến trường của chúng ta là ở bên kia sông Đáy, sông Hông ra đến biển…” Vậy là nơi Man đến là Châu thổ các con sông Đáy, sông Hồng và biển Đông đầy nắng. Ra khỏi sương mù vơi Man là cuộc đổi đời rồi. Man ít cái chữ nhưng anh cũng biết chút ít cái đồng bằng, nó đang ở phía kia, ở đấy không có núi rừng mà có sông Đáy, sông Hồng và biển … nơi ấy hẳn là có nhiều giặc Tây?

Những chuyện đánh Tây hồi đầu năm ở Sơn Tây … trước ngày Đại đoàn về hội quân để thành lập với Man còn nhớ như in. Anh đã hình dung đươc 12 dũng sỹ đánh giặc ở phố Na, một chiến sỹ đã vung dao chém giặc tây, cướp pháo 105 ly ở Ba Gò Thanh Lũng. Rồi Man chỉ muốn chạy đến chỗ Đại đội trưởng để nói nhỏ với anh (như nói nhỏ với Mế ) là anh Man muốn ra trận đánh Tây lắm rồi. Cái miệng ở Man thì muốn nói mà cái bụng lại sợ đại đội trưởng phê bình là trẻ con, là không yên tâm công tác. Man ngồi lặng nhìn mấy đứa trẻ đang nô đùa bên các anh lính cũ.

Đồng bằng trước ngày Đại đoàn của Man xuất binh, giặc Pháp đã bình định xong, nhất là ở nơi đông bào theo đạo Thiên chúa như Bùi Chu, Phát Diệm …. ở đây bọn tu sỹ phản động đã mặc áo lính, chung đã thiết lập các Tiểu đoàn bảo an “Tử vì đạo”, biến các nhà thờ thành đồn luỹ thanh chiến. Chúng ngang nhiên đứng cạnh các đội quân viễn chinh Pháp để dẫn đường cho giặc tàn sát đồng bào ta, phá hoại cuộc kháng chiến của ta.ở đây đơn vị của Man sẽ đến!

Vào 2giờ 50 phút đêm ngày 10/11/1951, khi Trung đoàn của anh Nguyễn Phú Vỵ đánh bất ngờ vào trung tâm thánh chiến Phát Diệm của giặc thì đại đội 269 Tiểu đoàn 391 của Man vẫn lặng lẽ  mai phục sau mấy xóm lẻ trơ trụi bên cánh đồng nước của làng Yên Ninh, trên đường 10 Ninh Bình - Phát Diệm.

Phát Diệm bất ngờ bị thất thủ. Bọn chỉ huy Chi khu quân sự Ninh Bình đã huy động các loại hoả lực, trên không, mặt đất yểm hộ cho lưc lượng ứng cứu chiếm lai Phát Diệm … Quyết đẩy chủ lực ta ra khỏi Hậu phương của chúng.

Đúng 8 giờ 30 phút nghĩa là sau 5 giờ ta nổ súng tấn công hơn 200 tên giặc của đại đội ứng cứu đi dè dặt đã lọt vào trận địa mai phục của Tiểu đoàn 391, các đơn vị ta từ các ụ đất, bờ dứa sau các xóm lẻ đã nhất loạt xông lên chia cắt, hất chúng khỏi đường 10, buộc chúng phải phơi mình trên đồng nước trắng. Chỉ trong 30 phút cả đội quân ứng cứu đã bị đơn vị của Man giết và bắt làm tù binh.

Phát Diệm chẳng những thất thủ lại còn bị chặt đứt đường ứng cứu, chúng như con Báo khát nước, điên dại lồng lộn dồn tất cả hoả lực cho Phát Diệm vào con đường không đầy 3km. Dưới đất các trận địa pháo hạng nặng bắn tới tấp vào các xóm lẻ, trên không hàng chục máy bay khu trục, bụng đầy bom lồng lộn như săn, như đuổi. Đại đội trưởng 269 phán đoán: Giặc Pháp không thể lấy lại cái đã mất, thật sự chúng đã hoá dại, chúng có thể bằng hoả lực để huỷ diệt sự sống, xoá xóm lẻ trơ trụi này. Anh nhanh chóng ra lệnh cho Man “Truyền lệnh cho các trung đội tản ngay ra bìa làng để tránh thương vong”.

Hiểu ý Đại đội trưởng, Man đi ngay. Ra khỏi nơi ẩn nấp, Man lao nhanh về phía Trung đội 1, bỗng một máy bay khu trục chao cánh, lao về phía Man. Hai quả bom như 2 cái thuyền câu rơi trước mặt Man. Một cột lửa cuồn cuộn trùm lên người liên lạc. Man giẫy dụa, ngụp lặn để tránh lửa cháy, nhưng ngọn lửa tai ác của bom na pan cứ bám riết và cháy xèo xèo trên da thịt anh. Anh nghiến răng chịu đau, cố chạy về phía chân tre, anh em Trung đội1 đã nhìn thấy Man, họ chạy ra ôm lấy anh, nhận được lệnh trong tiếng thở đứt đoạn của Man, mọi người tìm cách sơ cứu cho anh, rồi nhanh chóng tản ra ngoài làng. Nghỉ giây lát trên tay đồng đội, rồi Man lại vùng dậy chạy về chỗ Đại đội trưởng. Thấy vết thương của Man khá nặng mà vẫn còn một Trung đội nữa chưa nhận được lệnh mới, họ đang bị đe doạ trước đòn trả thù của giặc.

Man hiểu được băn khoăn của người chỉ huy, mà anh cũng không sao yên lòng được khi còn một Trung đội đang chờ lệnh mới, đang bị uy hiếp của bom pháo địch. Nhất định phải đi cứu anh em - Man nghĩ vậy, anh đã năn nỉ đại đội trưởng :

        - Đại đội trưởng à, đồng chí cứ để tôi đi, tôi đã quen lối rồi. Tôi còn làm được nhiệm vụ liên lạc mà, chúng nó không làm gì được tôi đâu.

Không còn cách nào khác, được Đại đội trưởng gật đầu để Man đi, rồi nhìn theo Man khó nhọc bước, anh dặn với: Cố lên Man nhé ! Cả đại đội đang chờ!

Man chệnh choạng bước rồi trườn mình trên nước, Man vừa thoát ra khỏi làng một đoạn thì một chiếc máy bay khu trục nhào tới, cắt hai quả bom vàng khè nhằm vào anh. Lúc này Man đã quá mệt, mọi cử động không còn mau lẹ nữa, bất chấp hiểm nguy, Man cố trườn về phía anh em.

Hai quầng lửa khổng lồ đã chụp lấy thân thể nhỏ bé của Man. Anh lại giãy dụa, trồi lên, lận xuống, cố thoát khỏi ngọn lửa đang rừng rực cháy. Trong cơn đau tưởng như tuyệt vọng, anh nhớ lại lời của đại đội trưởng “cả đại đội đang chờ, cố lên Man nhé!” rồi ở phía trước có nhiều tiếng gọi “chúng tôi đang chờ cố lên Man ơi”. Anh biết tiếng gọi ấy là của đồng chí, đồng bào. Họ đang là nạn nhân của một cuộc tảm sát tàn bạo. Anh vụt đứng lên chạy … ngã xuống … lại đứng lên, chạy … lại ngã xuống và cuối cùng anh ngã xuống tay đồng đội.

Chỉ ít phút nhận được lệnh, bộ đội ta, đồng bào ta và cả toán tù binh mới bị bắt vừa rút ra bìa làng thì cái xóm nhỏ ấy đã ngập chìm trong bom lửa và bom phá của giặc. Trương Công Man đã hoàn thành nhiệm vụ! Anh đã chiến thắng! Trong khi đó anh vẫn nằm bất tỉnh. Các vết bỏng cứ tiếp tục le lói cứa máu khắp người anh.

TRƯƠNG CÔNG MAN, NHÌN Ở GÓC ĐỘ NGƯỜI CHIẾN SĨ XUNG KÍCH.

Vết thương cháy bỏng trên nửa cơ thể Man, do vậy mà anh nằm điều trị khá lâu. Anh ra viện quân y khi chiến dịch Thu đông 1951 kết thúc. Quên đau đã thành thói quen, các vết sẹo bỏng làm mặt anh tím bầm, sần sùi. Nhiều vết sẹo sâu kéo cơ làm chân tay anh có chỗ co quắp vẫn còn đau nhức. ấy vậy mà Man không mấy quan tâm. Cái mà anh quan tâm là đơn vị anh hiện đang ở mặt trận nào? ai còn? ai mất.Và ta đã giải phóng thêm được những đâu. Rồi như không chờ người dẫn đường, anh khoác ba lô tìm đến chỗ ở của đồng chí Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn, người mà anh thường gặp gỡ sau mỗi lần chiến thắng.

Biết có người đến, đồng chí Chủ nhiệm nhìn ra, lúc đầu anh không nhận ra Man. Man hắng dọng rồi dõng dạc.

- Báo cáo đồng chí Chủ nhiệm, Man về để nhận nhiệm vụ ạ!

Đồng chí chủ nhiệm hiểu ra. Anh nhìn kỹ chàng trai dũng cảm, con chim đầu đàn trong phong trào thi đua giết giặc lập công của Trung đoàn. Anh tươi cười chạy ra đón.

Man đấy à? khoẻ hẳn chưa? vào đây uống nước đã. Đồng chí chủ nhiệm chính trị Trung đoàn ân cần hỏi thăm Man. Anh cố dấu đi nỗi xúc động khi nhìn máng còn vương nhiều vẻ nhút nhát, hoang sơ nữa. Trông Man già dặn như người trung tuổi, từng trải, Anh cố kìm để khỏi rơi nước mắt…..Anh nói:

- Man này! Man về bên nhà nghỉ ngơi cho đỡ mệt rồi chúng mình nói chuyện sau nhé!

- Thưa đồng chí chủ nhiệm, Man muốn được nhận nhiệm vụ.

Đồng chí chủ nhiệm chính trị cười, khẩn khoản nói với Man - Man cần nghỉ ngơi cho khoẻ đã, công việc sẽ bàn sau!

Man biết mình đang nghe một mệnh lệnh của cấp chỉ huy, anh vội đứng dậy nói to:

- Rõ!

Man theo đồng chí liên lạc về bên nhà nghỉ.ở đây anh được một đồng chí cán bộ cho hay là tổng kết chiến dịch anh được bầu là chiến sĩ thi đua của Đại đoàn đồng bằng.

Để chuẩn bị cho người để dự Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc vào cuối năm ấy, trung đoàn đã cử hai cán bộ chính trị, trực tiếp làm việc với Man và đơn vị của anh, để viết về gương dũng cảm chiến đấu của người con trai Mường yêu nước. Các anh làm việckhá vất mà chưa khai thác được nhiều, nhiều câu Man chỉ nói mình có biết gì đâu mà nói, nước còn giặc thì làm sao nhà có yên vui. Man chỉ có thể nói với các anh là sau khi đất nước độc lập, dân bản được ruộng cày mà thôi. Các anh đừng viết về Man, mà hãy viết về đồng chí đã ngã xuống. Họ xứng đáng được viết, còn Man làm được nhiệm vụ là Man muốn giết hết lũ giặc Tây kia thôi.

Tất nhiên muốn viết về gương chiến đấu của Man, cán bộ ta phải về quê hương Thanh Hóa và tìm hiểu qua nhiều đồng chí, đồng đội của anh.

Mùa đông năm 1951 Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc ở chiến khu Việt Bắc, Bản báo cáo vắn tắt về thành tích chiến đấu của Man được hoan nghênh nhiệt liệt. Nhìn những vết thương tím bầm, sần sùi trên khuôn mặt Man, nhiều đồng chí đã khóc nức nở. Đại hội đã nhất trí bầu Man là chiến sĩ thi đua toàn quân.

Anh còn niềm vui bất chợt nữa là được Đại Tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp gọi anh là “Chiến sĩ khoác áo lửa’’ cũng như tiểu đòan 391 của anh duoc mang danh hieu Tieu doan Yen Ninh.

Đông Xuân năm 1952, Đại đoàn đồng bằng về đồng bằng lần thứ hai. Chỉ sau đó mấy tuần, hàng loạt đồn bốt giặc Pháp nằm trên trục đường 39 lần lượt bị tiêu diệt. Trong một trận đánh người ta lại thấy hình ảnh “chiến sĩ khoác áo lửa” xuất hiện.

Chuyện kể rằng; tại đồn Chợ mới, để cứu người chỉ huy bị thương đang bị lửa cháy, chiến sĩ ta dã tung chăn bọc lấy anh mang ra khỏi trận địa, còn mình thì mặc cho lửa cháy.

Mất đường 39 giặc Pháp không thể để mất thêm đường 218, chúng đã tung binh đòan cơ động số 4 từ thị xã về đánh giải vây.

Ngày 9 - 2 năm đó tiểu đoàn Yên Ninh của Man được lệnh chặn đánh cuộc càn quét lớn này địch ở xã Thượng Phương (nay la Đông An, và  Đông Hoàn).

12 giờ trưa chúng chia ba mũi. Bốt tìm, mộ đỏ, thái hoà (đường 218) tiến vào làng Tầm Phương quân ta bố thí tại bìa làng Phú Xuân và Đại Đồng, chờ địch đến thật gần đánh trả quyết liệt. Trong lúc gay cấn nhất thì khẩu súng máy của ta bị pháo bắn trả rồi tìm cách thông nòng súng giúp xạ thủ bị thương. Chữa được súng thì vừa lúc địch xông vào. Cả đội hình sung phong của địch bị quật ngã, chúng chạy đè lên nhau dãy dụa. Trận đánh này Tiểu đoàn Yên Ninh của Man đã diệt được 126 tên và bắt 18 tên hầu hết là lính Âu Phi. Thu nhiều quân trang quân dụng. Sau trận đánh thắng lợi này còn nhiều trận đánh khác. trong chiến công của Trung đoàn là có chiến công của Tiểu đoàn Yên Ninh và chiến công của Man.

Rồi như chúng ta đã biết, mùa đông năm 1952, ngày 5/11 Tiểu đội trưởng Trương Công Man đã dẫn đầu tổ xung kích, luồn sâu vào bốt tìm thuộc xã Thượng Phương (Đông A, Đông Hoàng) các anh đã chủ động nổ súng tiến công. giữa lúc ấy địch từ Gia Lễ  kéo tới Tiểu đoàn của Man lập tức chuyển hướng đánh quân ứng cứu này. Trong đồn chỉ còn tổ 3 người của Man, đánh địch ngay chân lô cốt của giặc anh giật dây bộc phá, nhưng bộc phá không nổ vì trên đường vào phải qua một đầm nước dây cháy chậm bị ướt không nổ. Cả tổ của Man đã tả xung hữu đột, đẩy lùi nhiều đợt phản kích của quyết liệt của chúng. Cuối cùng cả tổ xung kích của Man đã anh dũng hy sinh. Nhà nước ta truy tặng anh danh hiệu vẻ vang “Liệt sỹ anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

TRƯƠNG CÔNG MAN CHÚNG TÔI NHÌN ANH VỚI MỘT TẤM GƯƠNG SÁNG, MỘT TRUYỀN THỐNG ĐẸP, MỘT DI SẢN VĂN HOÁ.

- Chúng ta nhìn anh với một tấm gương sáng, vì anh tiêu biểu cho lớp thanh niên mới lớn, khi trái tim của họ còn tinh khiết, lúc nào cũng rực lên ngọn lửa của tình yêu Tổ quốc núi sông, của tình yêu đồng bào đồng chí, sẵn sàng xã thân làm việc nghĩa.

- Nhìn anh là một truyền thống đẹp, vì anh tiêu biểu cho tuổi trẻ, quân đội anh hùng chiến đấu cho lý tưởng của người quân nhân cách mạng, giữ nghiêm kỷ luật tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên, mưu tí dũng cảm hoàn thành nhiệm vụ.

 - Còn nói nhìn anh với một di sản văn hoá vì anh sinh ra và lớn lên trong khói lửa của cuộc chiến vĩ đại của dân tộc mà “Chiến sĩ khoác áo lửa” là sẵn sàng quên mình để hoàn thành nhiệm vụ, nó là sản phẩm của chiến đấu, của cuộc kháng chiến thần thánh. Hành động anh hùng ấy là kết quả của nền giáo dục kháng chiến, của nền giáo dục cách mạng ở thời đại Hồ Chí Minh. Nó đã đi vào lịch sử kháng chiến, lịch sử cách mạng. Nó sẽ mãi mãi là tấm gương để giáo dục cho thế hệ mai sau, trong sự nghiệp quốc phòng của đất nước.

Trương Công Man anh đồng nghĩa với “Chiến sĩ khoác áo lửa” anh được nhân dân và các chiến sĩ yêu thương, kính trọng. Anh sẽ sống mãi trong lòng đồng bào, đồng đội và bạn bè với chúng tôi anh là di sản văn hóa ở thời đại Hồ Chí Minh.

                   Nhân dân Đông A anh hùng đời đời kính trọng anh!

                                               

 

Ghi chép của Đại Tá Nhâm Đắc Tưởng

Tháng 10 - 2004

 

 

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 4
Hôm qua : 9
Tháng 08 : 138
Năm 2019 : 2.484